Friday, 17 November 2017

infos Phật Quang Đại Từ Điển


佛光大辭典 Phật Quang Đại Từ Điển
http://www.vietnamtudien.org/phatquang/

















Phàm lệ (cho phiên bản web Beta)


Đây là trạm web song ngữ Hán Việt của bộ 佛光大辭典 Phật Quang Đại Từ Điển, Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch sang tiếng Việt.

Nguồn dữ liệu Hán văn: http://etext.fgs.org.tw/search02.aspx
Nguồn dữ liệu Việt văn: http://phatam.org/dictionary/tu-dien-phat-quang/2/all

Ngày hôm nay (thứ sáu 2017-11-17), trên trạm web Phật Quang Đại Từ Điển:
> có tổng cộng 32.151 mục từ Hán văn,
> và chỉ có 14.468 mục từ dịch sang tiếng Việt.

Theo sách Phật Quang Đại Từ Điển 佛光大辭典 ("Quê Mẹ & Phòng thông tin Phật giáo quốc tế" xuất bản năm 2012) — dùng làm  tài liệu tham khảo chính ở đây, bản dịch của Hòa thượng Thích Quảng Độ có tất cả 22.608 mục từ.

Khoảng hơn 8.000 mục từ (đã in trong sách) chưa có mặt trên trạm web này.

Phiên bản Beta trạm web này đang tiến hành theo những nguyên tắc sau đây:
> Hết sức tôn trọng bản dịch của HT Thích Quảng Độ,
> Về hình thức, trong quá trình chuyển đổi tự động, từ bản sách in trên giấy sang trang web, đã có một vài khuyết điểm: các chữ Phạm, Ba lị và Tạng hơi bị biến dạng, các chỗ xuống hàng, các dấu ngoặc kép, các kiểu chữ in nghiêng (italic) hoặc đậm (bold) đều biến mất... Tạm thời, chưa có giải pháp tự động để lập lại cách trình bày cho thật sát với bản sách in, xin độc giả dựa theo cột Hán văn làm chuẩn.
> Về nội dung, chỉ sửa chữa hiệu đính nếu chắc chắn có sai sót. Những mục từ này sẽ đánh dấu [Ed] ở đầu trang,
> Lần lượt thâu nhập các mục từ đã dịch và chưa đưa lên web (dựa theo bản sách in 2012). Những mục từ này sẽ đánh dấu [@] ở đầu trang,
> Trong khi tiến hành  công việc sửa chữa hiệu đính, chúng tôi sẽ cố gắng dịch thêm những mục từ mới cập nhật trên trạm web Hán văn (bản dịch của HT Thích Quảng Độ hoàn thành khoảng năm 1999 đã dựa theo bản Hán văn gốc in xong trước đó). Những mục từ bổ sung này sẽ đánh dấu [+] ở đầu trang.



Tóm tắt các kí hiệu
[Ed]: có hiệu đính
[@]: thâu nhập bằng tay
[+]: bổ sung
 

Độc giả nếu thấy sai sót xin thông báo bằng email. Thành thật cám ơn.

Kính cáo,
2017-11-17


 




Thursday, 26 October 2017

Phật Quang đại từ điển: Cách sử dụng


佛光大辭典 Phật Quang Đại Từ Điển Thích Quảng Độ (v1.0)
http://www.vietnamtudien.org/phatquang/
http://www.vietnamtudien.org/phatquang/smart.php

Đây là một bộ từ điển song ngữ Hán Việt, theo dạng hv-ebook (tức là: mỗi chữ Hán trong cột Hán văn là một hyperlink dẫn đến trang định nghĩa trong trạm web Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn).

Cách sử dụng


1 Tìm theo chữ cái a, b, c... đầu mục từ chữ Việt

vào ô trống: 1 hoặc 2 chữ cái:

a, á, ả, â, ấ, b, c, d, đ, ế, g, h, i, k, l, m, n, ng, nh, o, p, q, r, s, t, th, tr, u, ú, v, x, y

Thí dụ: gõ 2 chữ cái "an".


Kết quả là một danh sách các mục từ tiếng Việt bắt đầu bằng 1 hoặc 2 chữ cái đã gõ. Trong thí dụ gõ 2 chữ cái "an" như trên, kết quả như sau (trích đoạn):


1 . [安下處] an hạ xứ
2 . [安世高] an thế cao
3 . [安令首尼] an lệnh thủ ni
4 . [安名] an danh
5 . [安宅神咒經] an trạch thần chú kinh
6 . [安宅陀羅尼咒經] an trạch đà la ni chú kinh
7 . [安心] an tâm
8 . [安心立命] an tâm lập mệnh
9 . [安心起行作業] an tâm khởi hành tác nghiệp
10 . [安玄] an huyền 


Click lên mục từ muốn tìm, sẽ thấy bảng 2 cột Việt-Hán giải thích ý nghĩa.

2) Tìm theo chữ Việt 


Gõ bằng chữ Việt cả câu (hoặc một phần) mục từ tiếng Việt. Thí dụ: "hạ xứ".

Kết quả là một danh sách các mục từ (chứa những chữ Việt đã gõ). Thí dụ:
1 . [安下處] an hạ xứ 

Click lên mục từ muốn tìm, sẽ thấy bảng 2 cột Việt-Hán giải thích ý nghĩa.    

3) Tìm theo chữ Hán

Gõ bằng chữ Hán cả câu (hoặc một phần) mục từ tiếng Hán. Thí dụ: "下處".

Kết quả là một danh sách các mục từ  (chứa những chữ Hán đã gõ). Thí dụ:  
1 . [安下處] an hạ xứ 

Click lên mục từ muốn tìm, sẽ thấy bảng 2 cột Việt-Hán giải thích ý nghĩa.



Chú ý:

Khi xem trạm web thích hợp cho smartphone http://www.vietnamtudien.org/phatquang/smart.php, nên đóng trang
dành cho PC http://www.vietnamtudien.org/phatquang/ (nếu đã mở ra). 
Điều này tránh khỏi kết quả tra cứu hiện ra trên trang dành cho PC.




Sunday, 20 August 2017

hanviet.org giúp đỡ


Trong trang đầu, người dùng có thể điều chỉnh bề ngang hai cột chính:

> để mũi chuột trên đường dọc giữa trang,
> một hình hai mũi tên như sau <=!=> hiện ra trên màn ảnh,
> (nhấn bên trái mũi chuột) dời
đường dọc sang phải (hoặc trái) theo ý muốn.





Wednesday, 17 May 2017

辯 biện


◼ (Động) Lí luận, tranh luận. ◎Như: cao đàm hùng biện biện bác hùng dũng. ◇Mạnh Tử : Dư khởi hiếu biện tai? Dư bất đắc dĩ dã , (Đằng Văn Công hạ ) Ta há thích tranh luận đâu. Ta bất đắc dĩ vậy.
◼ (Động) Phân biệt. § Dùng như chữ . ◇Dịch Kinh : Quân tử dĩ biện thượng hạ (Lí quái ) Người quân tử biết phân biệt trên dưới.
◼ (Động) Trị, làm.
§ Thông . ◇Chu Lễ : Biện kì ngục tụng (Thu quan , Ti khấu ) Sửa trị các việc thưa kiện ngục án.
◼ (Động) Biến hóa. § Thông biến . ◇Trang Tử : Nhược phù thừa thiên địa chi chánh, nhi ngự lục khí chi biện, dĩ du vô cùng giả, bỉ thả ô hồ đãi tai? , , , (Tiêu dao du ) Đến như kẻ cưỡi lẽ chính của trời đất, chế ngự sự biến hóa của sáu khí (*), để sang chơi ở chỗ vô cùng, họ nào có chờ đợi gì đâu? § Ghi chú: (*) Sáu khí là âm, dương, sáng, tối, gió và mưa.
◼ (Tính) Giỏi biện thuyết. ◎Như: biện sĩ .
◼ (Danh) Lời khéo léo giả dối, xảo ngôn. ◇Chiến quốc sách : Mê ư ngôn, hoặc ư ngữ, trầm ư biện, nịch ư từ , , (Tần sách nhất, Tô Tần thủy tương liên hoành ) Mê hoặc về ngôn ngữ, chìm đắm vào lời lẽ khôn khéo giả dối.
◼ (Danh) Tên một thể văn. § Hàn Dũ có bài húy biện .
◼ § Thông biếm .
◼ § Thông bạn .

◼ § Thông phán .

1. [辯駁] biện bác 2. [辯證論] biện chứng luận 3. [辯證法] biện chứng pháp 4. [辯護] biện hộ 5. [辯論] biện luận 6. [辯難] biện nạn 7. [辯士] biện sĩ 8. [辯才] biện tài 9. [辯說] biện thuyết 10. [雄辯] hùng biện 11. [口辯] khẩu biện



Friday, 28 April 2017

Kim Thánh Thán 金聖嘆 (1608-1661)


西

Hồi xưa cùng Trác Sơn, cùng ở trọ đất khách, mưa dầm mười ngày, nằm nhìn nhau buồn rứt. Nhân thi nhau nói những chuyện sướng để cho lòng đỡ bạo bực. Đến nay đã cách hai mươi năm cũng không còn nhớ nữa. Nhân đọc chương “Khảo hoa” ở Mái Tây, thấy miệng con Hồng nói ra bao nhiêu câu sướng miệng, nghĩ lại tiếc bấy giờ sao không lục ra cùng đọc thì buồn đến đâu mà chả phải tan. Vì thế bèn cố nhớ lại, còn ghi được mấy điều phụ chép dưới đây, cũng không còn phân biệt được câu nào là của Trác Sơn, câu nào là của Thánh Thán nữa...

不亦快哉 Chẳng cũng sướng sao? [01-33]






Wednesday, 29 March 2017

Tuesday, 14 February 2017

Tây Sương Kí 西廂記 Mái Tây


http://hv-ebook-taysuongki.blogspot.fr/

(1) Vương Thực Phủ, Mái Tây (Tây Sương Ký), bản dịch của Nhượng Tống, nhà xuất bản Tân Việt, Saigon, trước 1975

(2) 西廂記
http://ourartnet.com/Sikuquanshu/Jiku/Qu/Qu_008/Qu_008.asp
(3) Full text of 西廂記 
Project Gutenberg's The Romance Of The Western Bower, 

by Shifu Wang
http://archive.org/stream/pgcommunitytexts23906gut/23906-0.txt

(4) 西廂記(元)王實甫
http://www.angelibrary.com/oldies/xixiang/xixiang.htm














Tuesday, 10 January 2017

23 Canh Tang Sở 庚桑楚

trích:
Trang Tử 莊子 Nam Hoa Kinh
 
(I)Canh Tang Sở (I)
1.







使









2.

















3.











4.




























1.
Học trò Lão Đam, có người là Canh Tang Sở, riêng hiểu đạo của Lão Đam, sang Bắc, ở núi Úy Lũy.
Đầy tớ thầy, hạng ngôn ngoan rạch ròi bỏ thầy (1)!
Vợ lẽ thầy, hạng chầm vập yêu thương xa thầy (2)!
Lũ ỏng bủng cùng thầy ở! Phường lem luốc để thầy sai (3)! Ở ba năm, miền Úy Lũy khá to!
Dân ở Úy Lũy nói với nhau rằng:
— Thầy Canh Tang Sở lúc mới đến, chúng ta bâng khuâng lấy làm lạ. Nay chúng ta: ngày tính ra không đủ (4)! năm tính ra thì có thừa! Có lẽ thánh nhân chăng? Các bác! Sao ta không cùng nhau lập đền đài mà thờ phụng?

2.
Thầy Canh Tang Sở nghe chuyện, quay mặt sang nam bẽn lẽn. Học trò lấy thế làm lạ.
Thầy Canh Tang nói:
— Các con! Có lạ gì ta? Kìa hơi xuân tới mà trăm loài cỏ xanh! Thu vừa sang mà muôn của báu thành! Kìa xuân cùng thu phải rằng không có đức gì mà được thế sao? Đạo cả đã nhuần thấm rồi! Ta nghe bậc chí nhân ngồi trơ trong chiếc nhà bao tường đất, mà trăm họ rông cuồng, không biết là đi đâu… Nay đem dân miền Úy Lũy, mà lén lút muốn dâng cỗ bàn cho ta ở giữa đám hiền nhân! Ta có lẽ là hạng người môi gáo sao? Vì thế ta bẽn lẽn với lời của Lão Đam.
3.
Học trò thưa:
— Không phải thế! Kìa trong rạch một tầm, một trượng, cá lớn không có chỗ dong thân mà bống, mại là giỏi! Trên gò (5) một bước, một nhận, muông lớn không có chỗ náu hình, mà cầy, cáo (6), là hay! Vả chăng tôn người hiền; cất người tài; lấy thiện và lợi làm đầu; thì xưa Nghiêu, Thuấn đã thế rồi, huống chi là dân Úy Lũy! Thầy cũng nghe họ thôi!
4.
Thầy Canh Tang bảo:
— Các con lại đây! Kìa giống muông lật xe, một mình lìa núi, thì không khỏi cái lo bẫy lưới. Loài cá nuốt thuyền, mắc cạn mà mất nước, thì kiến, bọ có thể làm khổ được. Cho nên chim không chán cao; cá, giải không chán sâu. Mà con người giữ toàn xác và sống của mình, giấu thân mình, cũng không chán sâu xa, kín đáo mà thôi. Vả lại hai người vua ấy, lại đâu đáng để ngợi khen. Về sự phân biệt của họ, khác nào khoét láo tường, vách, mà trồng cỏ bồng, cỏ tranh! Lần từng sợi tóc mà chải đầu! Đếm từng hạt gạo mà thổi cơm! Len lén vậy, lại đâu đủ để giúp đời! Cất người giỏi thì dân khuynh loát nhau. Dùng người khôn thì dân ăn trộm nhau. Mấy cách ấy, chẳng đủ cho dân thuần hậu. Đối với lợi, dân nó siêng năng lắm. Con có kẻ giết cha! Tôi có kẻ giết vua! Ban ngày ăn trộm! Giữa trưa khoét ngạch! Ta bảo các con, cái gốc loạn lớn sinh ra từ thời Nghiêu, Thuấn. Mà cái ngọn còn mãi cho đến sau nghìn đời. Sau nghìn đời, tất có chuyện người với người ăn thịt lẫn nhau!